KINH THÀNH HUẾ

Kinh thành Huế còn được gọi là Thuận Hóa kinh thành (chữ Hán: 順化京城). Là nơi đóng đô của triều đại nhà Nguyễn trong suốt 143 năm từ 1802 đến khi thoái vị vào năm 1945. Hiện nay, Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Kinh thành Huế có 3 vòng thành lần lượt là Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành. Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuối cùng ông đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương gồm phần đất của các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và Kim Long làm nơi xây thành. Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Kinh thành Huế được đích thân Gia Long chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chình vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành… kéo dài trong suốt 30 năm dưới hai triều vua.

Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520ha. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ).

Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương).

Kỳ đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840.

Kỳ đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ.

Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau. Tầng thứ nhất cao hơn 5,5m, tầng giữa cao khoảng 6m, tầng trên cùng cao hơn 6m. Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5m. Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2m. Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng. Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới. Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.

Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30m. Năm Thiệu Trị thứ sáu (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32m. Đến năm Thành Thái thứ mười sáu (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang. Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa. Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37m hiện nay mới được xây dựng.

 

 

Cửa Ngăn là tên một cửa của Kinh thành Huế, nằm về phía Nam bên trái Kỳ Đài, nguyên tên là Thể Nguyên, năm 1829 xây vọng lầu bên trên cửa vòm, vua Minh Mạng sai đổi gọi là Thể Nhân (hoặc Nhơn) song dân gian thường gọi là Cửa Ngăn, vì mỗi khi vua và cung phi đi lối này từ Đại Nội ra Phu Văn Lâu, nhà Lương Tạ để hóng mát hoặc tắm sông thì quân lính ngăn không cho thường dân đi lại. Để ghi nhận cái tên dân gian trở thành phổ thông hóa, chính quyền địa phương lấy tên Cửa Ngăn để đặt tên cho đoạn đường chạy lòn qua vọng lầu của cửa này là đường Cửa Ngăn. Bên đường này phía trong thành có đặt 5 khẩu súng Thần công gọi là Hữu đại tướng quân gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

 

 

Đường Cửa Ngăn nằm trên địa bàn phường Phú Hòa và Thuận Thành, khởi đầu từ đường Lê Duẩn (ngoài Kinh thành – đoạn gần cầu Phú Xuân), qua cầu Cửa Ngăn bắc ngang Hộ Thành hào, lòn qua cửa Thể Nhơn đến đường Hai Mươi Ba Tháng Tám (trong Kinh thành, gần phía bên trái cửa Ngọ Môn), dài 276m. Đường này chỉ được lưu thông một chiều từ ngoài vào Thành nội.

Đường Cửa Ngăn có từ năm 1804, mở cùng thời gian xây dựng Kinh thành Huế, nó chiếm một vị trí quan trọng trong việc phục vụ nhà vua và triều đình. Tháng 5 (âm) năm 1820, vua Minh Mạng cho đặt tên đường phố ở Kinh thành, sách Thực Lục Chính Biên chép rằng: “Từ cửa Thể Nguyên về Bắc đến mặt Nam Hoàng thành làm đường cái Thể Nguyên”. Từ sau 1945, đường này không có tên chính thức nên dân gian tùy ý mà gọi. Đến năm 1996, đường được mang tên đường Cửa Ngăn.

 

 

Ngọ Môn (tên chữ Hán: 午門) là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế. Hiện nay là một trong những di tích kiến trúc thời Nguyễn trong quần thể di tích cố đô Huế. Ngọ Môn – có nghĩa là “cổng tý ngọ” – hướng về phía nam, là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế. Chỉ dành riêng cho vua đi lại hoặc dùng khi tiếp đón các sứ thần.

Ngọ Môn là một tổng thế kiến trúc đa dạng, phía trên là lầu Ngũ Phụng với chức năng như một lễ đài, dùng để tổ chức một số lễ nghi trọng thể như duyệt binh, lễ xướng tên những người thi đỗ tiến sĩ, lễ ban sóc hàng năm và đây cũng là nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại – vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30/8/1945.

Theo kinh dịch thì các vị vua bao giờ cũng quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ, cho nên ngay từ thời Gia Long (1802-1819), khi xây dựng kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị thế tọa càn hướng tốn (Tây Bắc – Ðông Nam) cũng có nghĩa là hướng Bắc – Nam, thuộc Ngọ trên trục Tý – Ngọ, do đó Minh Mạng đã đặt tên cho chiếc cổng mới xây ở chính giữa mặt trước hoàng thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết đài.

Hệ thống nền đài cao gần 5m, xây trên mặt bằng chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m và cánh 27,06m. Ở phần giữa của nền đài trổ ba lối đi. Ngọ Môn dành cho vua đi, Tả và Hữu Giáp Môn dành cho các quan văn võ theo hầu trong đoàn ngự đạo. Tả và Hữu Dịch môn nằm ở hai cánh của nền đài, dành cho lính tráng và voi ngựa đi.

Hệ thống lầu ngũ phụng có hai tầng, lầu gồm chín bộ mái lợp ngói hoàng lưu ly và thanh lưu ly, lầu dựng trên nền cao 1,14m xây trên nền đài. Ở tầng trên, mái lầu chia ra thành 9 bộ khác nhau.
Tổng thể Ngọ Môn nhìn từ xa như một tòa lâu đài đồ sộ nguy nga, nhưng khi tiếp cận, nó trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm của con người xứ Huế.

 

 

Cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trong Hoàng Thành, là đường dẫn từ cửa thành Ngọ Môn vào điện Thái Hoà. Cầu Trung Đạo được xây dựng từ đầu đời Gia Long, đến năm Minh Mạng 14 thì được tu sửa và mở rộng hơn trong đợt tái thiết Hoàng Thành.

Cầu được xây bằng gạch, mặt dưới gồm nhiều vòm cuốn. Hai đầu cầu có hai cổng dựng bằng 4 cột đồng. Trên cột đồng trang trí hoa sen. Điều này mang ý nghĩa hoa sen tượng trưng cho những ngọn đuốc soi sáng cho nhà vua. Hai cột giữa cao chạm trổ rồng 5 mống. Tuy hai trụ đối xứng nhau nhưng một bên được tạo hình rồng vươn lên, một bên tạo hình rồng lao xuống tạo sự sinh động, hấp dẫn. Phía trên các trụ có những khung hình chữ nhật trang trí bằng pháp lam rực rỡ và có gắn chữ nổi khá lớn “Trung hòa vị đục” theo ý nghĩa “trung” là cái gốc lớn của thiên hạ, “hòa” là đạt đạo của thiên hạ. Khi thực hiện được sự trung hòa thì trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi nảy nở.

Cầu Trung Đạo dẫn đến sân chầu trước điện Thái Hòa. Cầu là công trình kiến trúc nằm trên trục chính của Hoàng thành, dành cho vua đi. Đối xứng hai bên cầu là hai công trình kiến trúc khác được xây dựng theo nguyên tắc “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”.

Ở hai đầu cầu Trung Đạo có hai Nghi môn (còn có tên gọi khác là Phương môn).
Hai mặt trước sau của mỗi Nghi môn đều có bốn chữ viết trên nền Pháp lam. Hai mặt hướng nam (từ ngoài Ngọ Môn nhìn vào) là hai câu Chính trực đẳng bình và Chính đại quang minh. Hai mặt hướng bắc (trong điện Thái Hoà nhìn ra) là hai câu Cư nhân do nghĩa và Trung hoà vị dục. Nội dung bốn câu trên hai Nghi môn này toát lên tư tưởng chỉ đạo, phương hướng, đường lối cai trị của triều đình nhà Nguyễn.
Chính trực đẳng bình và Chính đại quang minh mang ý nghĩa mà Mạnh Tử gọi là ngoại vương. Trong Kinh Thư, Kinh Thi đều có viết về chính trực đẳng bình, tuân vương chi nghĩa, tuân vương chi đạo, vương đạo chính trực… Vua Minh Mạng cho đưa bốn chữ này lên Nghi môn trước điện Thái Hoà là đưa ra tuyên ngôn về con đường chính trị của triều đại, và của bản thân nhà vua. Đó là thực hành chính sự ngay thẳng, rõ ràng. Bậc quân vương tuân theo điều nghĩa, không thiên lệch.

 

 

Nhật Thành Lâu là ngôi lầu hai tầng nằm ở phía đông Càn Thành Điện, phía nam Thái Bình Lâu. Trước đây là vị trí của Minh Thận Điện. Theo một số tác giả , ngôi lầu nầy là Phật điện của vua trong Tử Cấm Thành(?). Lối lên lầu cũng được làm hành lang che.

 

 

Cây ngô đồng phía sau điện Thái Hoà trong những ngày nở hoa. Cây được vua Minh Mạng trồng.

Người xưa tin rằng khi hoa nở, phượng hoàng sẽ về đậu trên đó. Nên vua trồng cây ngô đồng với mong muốn sự may mắn, quốc thái dân an. Hoa thường nở độ tháng 3.

Người xưa mỗi khi thấy lá ngô đồng rụng để chuẩn bị ra hoa là biết mùa thu về. Tuy nhiên, những cây ngô đồng ở Hoàng cung Huế lại khoe sắc vào dịp cuối mùa xuân và đầu mùa hạ.

Xưa kia, cây ngô đồng trong Hoàng cung do vua Minh Mạng cho người sang Trung Quốc đem giống về trồng. Khu vực điện Thái Hòa, trước mặt điện Cần Chánh và những nơi quan trọng của Hoàng cung Huế là những địa điểm đầu tiên được chọn trồng cây ngô đồng. Bởi vậy, loài hoa này được khắc nổi trên Nhân Đỉnh đặt trước Thế Miếu, chiếc đỉnh ứng với vua Minh Mạng.

 

 

Vườn Thiệu Phương là một trong những ngự uyển tiêu biểu thời nhà Nguyễn, nổi tiếng với cảnh đẹp nức tiếng xa gần. Thiệu Phương Ngự uyển từng được vua Thiệu Trị xếp là thắng cảnh thứ hai trong hai mươi cảnh đẹp xứ Huế (Thần Kinh Nhị Thập Cảnh).

Vườn ngự uyển là nơi vua và các thành viên trong hoàng tộc dạo chơi ngoạn cảnh. Nằm trong hệ thống 7 vườn ngự uyển nổi tiếng, vườn Thiệu Phương nổi lên như một thắng cảnh độc đáo, là niềm tự hào của các thế hệ văn sỹ Huế. Điểm đặc sắc nhất của vườn Thiệu Phương chính là kiểu kiến trúc “vạn tự hồi lang” – được hình thành trong thời kỳ đỉnh cao nhất của nghệ thuật kiến trúc cung đình. “Vạn tự hồi lang” là hệ thống hành lang uốn khúc hình chữ VẠN (佪) nằm ở trung tâm chạy ra 4 phía. Tại 4 góc của hồi lang này có 4 công trình kiến trúc nhỏ, gồm 2 đường và 2 hiên.

Phía nam vườn là khu Duyệt Thị Ðường; phía bắc – qua hồ Ngọc Dịch là Ngự Viên; phía tây là Thanh Hạ Thư Lâu (sau là Thái Bình Lâu) và phía đông là bờ tường phía đông của Tử Cấm thành. Quanh vườn có tường gạch bao bọc, cửa chính mở về phía nam.

Trong vườn, ở phía tây của Vạn Tự Hồi Lang, có hai lạch nước đều mang tên là Ngự Câu, thông với hồ Ngọc Dịch ở phía bắc bằng đường cống. Trên bờ phía đông của lạch có đắp một hòn núi nhỏ, tên gọi là Trích Thúy Sơn. Trong vườn là các loại cây quý, các loại kỳ hoa dị thảo, ao cá thả sen… thơ mộng tột bậc.

 

 

Lối đi ra cửa Hiển Nhơn

 

Cửa Hiển Nhơn nằm ở phía Đông của Hoàng Thành Huế, dành cho quan lại, nam nhân ra vào Hoàng Thành. Cửa Hiển Nhơn được xây dựng vào năm 1805, dưới thời vua Gia Long. Đến thời Minh Mạng, vào năm 1833, cửa được gia công phần trang trí đắp ghép mảnh sành. Đến thời Khải Định lại được trùng tu thêm một lần nữa. Trong chiến sự năm 1968, cửa đã bị bom đạn phá huỷ hoàn toàn. Sau năm 1975, cửa được trùng tu như ngày nay.

Tư liệu được tổng hợp từ nhiều nguồn

Photo & Retouch | Phi Trieu Photography

© All rights reserved. Please re-upload with credit

Follow me at

Flickr 500px

Instagram | @phitrieu.pro5

Twitter | @phitrieupro5

Leave a Reply

Your email address will not be published.